Gọi miễn phí
Gọi miễn phí

    Tìm hiểu về 6 Ngũ hành nạp âm của Mệnh Mộc

    Biên tập bởi: Nguyệt Minh Nguyệt Minh Ngày đăng: 2021-04-19 16:52:09  33 lượt xem  0 bình luận

    Hành Mộc là một trong 5 yếu tố quan trọng cấu thành nên quy luật âm dương ngũ hành. Mỗi một hành lại bao gồm nhiều nạp âm, thể hiện đặc điểm tính cách và ý nghĩa khác nhau. Nạp âm của ngũ hành Mộc gồm 6 đại diện Bình Địa Mộc, Đố Tang Mộc, Thạch Lựu Mộc, Dương Liễu Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bách Mộc. Hãy cùng Ancarat tìm hiểu từng nạp âm của mệnh Kim nhé!

    Tổng quan về nạp âm mệnh Mộc

    "Bình Địa Mộc trung chỉ nhất sinh

    Bất phùng Kim giả bất năng thành

    Ngũ ban biệt Mộc kỵ Kim loại

    Nhược ngộ đương nhiên bất đắc sinh"

    Mộc gặp Mộc tất sinh Kim, mà trở thành cầu nối.

    Ngũ hành Mộc sinh Hỏa, Hỏa nhiều thì Mộc lụi tàn, mà Mộc mạnh thì được Hỏa, phát tiết mạnh mà đạt tới độ trung hòa.

    Mộc khắc Thổ, Thổ nhiều thì Mộc gẫy, Thổ mạnh thì bồi đắp cho Mộc, tất nguy hại. Mộc ỷ vào Thủy để sinh, Thủy nhiều thì Mộc tiêu tán, Thủy có thể sinh Mộc mà Mộc nhiều thì Thủy lại bị thu hẹp.

    Hành Mộc là chỉ về mùa Xuân và là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt và dồi dào của cây cỏ hoa lá. Mộc còn là tên gọi dùng để định nghĩa cho mọi loại cây, loài cỏ sống trên mạnh đất. Ngoài là biểu tượng của sức sống mạnh mẽ, hành Mộc còn là sự che chở cho kẻ yếu, chống lại những sức mạnh phá hoại khác. Đồng thời, hành Mộc còn mang lại sự sống cho muôn loài trên trái đất.

    Trong thuyết ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì mệnh Mộc gồm 6 ngũ hành nạp âm:

    • Tang Đố Mộc (Cây dâu tằm)
    • Tùng Bách Mộc (Cây tùng già)
    • Đại Lâm Mộc (Cây trong rừng)
    • Dương Liễu Mộc (Cây dương liễu)
    • Thạch Lựu Mộc (Cây thạch lựu)

    Mệnh Kim gồm những tuổi nào

    Đại Lâm Mộc: Mậu Thìn (1928, 1988) và Kỷ Tỵ (1929, 1989)

    Dương Liễu Mộc: Nhâm Ngọ (1942, 2002) và Quý Mùi (1943, 2003)

    Tùng Bách Mộc: Canh Dần (1950, 2010) và Tân Mão (1951, 2011)

    Bình Địa Mộc: Mậu Tuất (1958, 2018) và Kỷ Hợi (1959, 2019)

    Tang Đố Mộc: Nhâm Tý (1972, 2032) và Quý Sửu (1973, 2033)

    Thạch Lựu Mộc: Canh Thân (1980 – 2040) và Tân Dậu (1981 – 2041)

    Ý nghĩa của từng nạp âm Mệnh Mộc

    Tang Đố Mộc - Cây dâu tằm

    Đào Tông Ngại viết: “Nhâm Tý, Quý Sửu là Tang Đố Mộc. Tý thuộc Thủy, Sửu thuộc Thổ, Thủy mới sinh Mộc, Thổ thì dưỡng Mộc nên gọi là cây dâu tằm”. Lá dâu có thể nuôi tằm, dâu tằm là nguyên liệu dệt may, vỏ cây có thể dùng làm nguyên liệu nhuộm. Mộc này kiên định, đa tài, có tác dụng to lớn.

    Người mệnh Mộc nạp âm Tang Đố Mộc là những người sống hoàn toàn bị động, tâm tình rộng rãi, nhưng cái rộng rãi do người điều khiển. Khi Tang Đố Mộc thành công về tài chính, họ thường bị đẩy vào tình trạng giúp người này đỡ kẻ nọ từ anh em đến họ hàng, bè bạn. Họ không thể ở ngôi vị lãnh đạo.

    Tùng Bách Mộc - Cây tùng già

    Đào Tông Ngại viết: "Canh Dần, Tân Mão là Tùng Bách Mộc, Mộc lâm quan vào Dần vượng đế cho Mão, nên Mộc sinh vượng không thể yếu đuối, hình dung thành cây tùng già".

    Tùng Bách Mộc trong ngũ hành Mộc vị cứ chính Đông, là hướng chính vị của Mộc nên rất vượng. Mộc này cứ chiếm Canh Tân Kim lại có phương vị hưng vượng phía Đông nên rất quý hiếm.

    Mộc này sống nơi rừng thiêng nước độc mà vẫn sinh tồn thịnh vượng có thể một tay che trời đất, không sợ sấm sét lôi phong, hoàn cảnh càng xấu thì càng kiên cường vững chãi.

    Đại Lâm Mộc - Cây trong rừng

    Đào Tông Ngại viết: "Mậu Thìn, Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc, Thìn là căn nguyên của thiên nhiên, Tỵ là lục dương, Mộc tới lục dương thì đâm chồi nảy lộc lại còn ở giữa thiên nhiên nên gọi là cây trong rừng".

    Đại Lâm Mộc tức là rừng cây hoang dã, các tán cây cùng vui đùa với gió mây, cây cao tới tận mặt trăng, vươn cao ngọn lá xanh tươi lên mây xanh.

    Đại Lâm Mộc do nhiều cây mà thành rừng nên cây cối trong rừng ngưng tụ rất nhiều ánh sáng mặt trời, vươn cao vươn xa, mở rộng tán rừng che chở con người và động vật bên dưới.

    Cũng giống như một người luôn tràn đầy tình yêu, tình đồng loại, thích giúp đỡ người khác, vừa ấm áp vừa gần gũi.

    Dương Liễu Mộc - Cây dương liễu

    Đào Tông Ngại viết: "Nhâm Ngọ, Quý Mùi là Dương Liễu Mộc, Mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi, nên Mộc này là tử mộ. Mặc dù có thiên can Quý sinh Thủy nhưng không thể chống lại tử mộ mà cuối cùng yếu nhược nên gọi là cây dương liễu". 

    Dương Liễu Mộc thẳng thắn mà cứng cỏi nên gọi là dương, cành mềm mại nên gọi là liễu, dương liễu một cây hai chủng loại; mềm mại yếu đuối, cành rủ xuống đu đưa trong gió nhưng cũng rất dẻo dai không dễ dàng đứt đoạn.

    Chính vì sự yếu đuối của mình mà Dương Liễu Mộc thường xuyên bị ngoại cảnh tác động làm thay đổi chính mình.

    Thạch Lựu Mộc - Cây thạch lựu

    Đào Tông Ngại viết: "Canh Thân, Tân Dậu Thạch Lựu Mộc, thân là tháng 7 Dậu là tháng 8 lúc này Mộc tất tuyệt, chỉ có Thạch Lựu Mộc mới tồn tại được trong hoàn cảnh này".

    Canh Tân can ngũ hành thuộc kim, Thân Dậu chi ngũ hành cũng thuộc kim, kim trong ngũ vị thuộc Tân nên mộc tính đều thuộc Tân thì chỉ có cây lựu mà thôi.

    Canh Thân Tân Dậu đều thuộc kim mà nạp âm lại thuộc mộc thì mộc vẫn bị thay đổi chỉ có Thạch Lựu Mộc có thể trường sinh.

    Thạch Lựu Mộc rất cứng cỏi mạnh mẽ không dễ bị đổ vì thế dù sống trong hoàn cảnh nào thì vẫn kiên định không thay đổi, có điều vì sự chắc chắn của mình mà trở nên thô ráp.

    Bình Địa Mộc - Cây đồng bằng 

    Đào Tông Ngại viết: "Mậu Tuất, Kỷ Hợi là Bình Địa Mộc, Mậu là gốc hoang dã, Hợi sinh Mộc, phu Mộc sinh trên đất hoang nên gọi là cây đồng bằng".

    Bình Địa Mộc tại Mậu Tuất Kỷ Hợi khí tụ tàng phục, âm dương bưng bít, vì vậy Mộc ví về căn phục trong Thổ. Nó cũng là một loại vật liệu để xây nhà trong dân gian, Mậu Tuất là cột, Kỷ Hợi là kèo.

    Tuy nhiên Bình Địa Mộc mới đơm chồi nảy lộc nên không thích phong ba bão táp mà chỉ thích mưa nhỏ tươi tắm hàng đêm. Bình Địa Mộc trong ngũ hành Mộc có Hợi là Mộc trường sinh địa khiến cây cối phát triển thuận lợi, lại có bình địa tự nhiên bao bọc nên vô cùng thích thú.

    0 bình luận

    Hỏi đáp

    Bài viết cùng chuyên mục